Hệ thống quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường là nhiệm vụ đặt chung cho mỗi người nói chung và Tân Tiến Phát nói riêng . Bảo vệ nguồn nước, không khí, đất đai giúp cho nguồn nước luôn được trong lành, sạch sẽ, không khí thoáng đáng 

Tân Tiến Phát có thâm niên trong nghề môi trường xử lý mùi hôi, xử lý rác thải, thông cống cầu nghẹt, rút cống cầu nghẹt toàn thành Phố Hồ Chí Minh . Chúng tôi là đơn vị được đánh giá cao trong nghề và được sự tin tưởng của người dân thành phố . Hãy cùng cộng tác với chúng tôi để cảm nhận về dịch vụ

thong cong nghet bang may

Phát triển hệ thống quản lý nhà nước về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường:

  • Đến các địa phương và các bộ/ngành đã hình thành và phát triển. Nhờ đó mà công tác bảo vệ môi trường trên toàn quốc đã được triển khai. Nhiều mô hình tự quản về môi trường ở một số địa phương và cộng đồng dân cư đã được tổ chức và phát huy tác dụng.

Tuy nhiên hệ thống tổ chức quản lý môi trường còn nhiều điều bất cập như: tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở cấp trung ương chưa tương xứng với nhiệm vụ đặt ra. Lực lượng quản lý ở địa phương quá mỏng, thiếu hẳn tổ chức cần thiết ở cấp cơ sở như quận/huyện, phường/xã; tổ chức quản lý môi trường ở các bộ ngành hiện thiếu hoặc yếu về chất lượng. Ơ nước ta số lượng các bộ của Cục Môi trường chỉ có 70 người, số cán bộ quản lý ở các tỉnh trung bình 2-4 người, tính chung cả nước chỉ mới đạt tỷ lệ khoảng 4 người trên 1 triệu dân, trong khi đó tại các nước lân cận tỷ lệ này cao hơn nhiều lần, như Trung Quốc : 20 người/ 1 triệu dân, Thái Lan 30 người, Campuchia 55 người, và Malaysia 100 người. 

  • Xây dựng chính sách , chiến lược và văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường

Chính sách , chiến lược và văn bản pháp luật về BVMT

Trong những năm qua nhiều văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến bảo vệ môi trường đã được ban hành như luật Bảo vệ môi trường, Nghị định 175 CP về “Hướng dẫn thi hành Luật BVMT, Nghị định 26/CP về “Xử phạt vi phạm hành chích trong lĩnh vực BVMT” và nhiều chỉ thị, thông tư, tiêu chuẩn về lĩnh vực môi trường do Thủ tướng chính phủ, các bộ/ngành và các địa phương đã được ban hành theo thẩm quyền.

Bên cạnh Luật BVMT, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh các hoạt động có liên quan đến khai thác và quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng được ban hành, như Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Khoáng sản, Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước, Luật Khoa học và Công nghệ, Quy định trách nhiệm và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT cũng được đề cập và bổ sung ở nhiều bộ lụật khác , kể cả Bộ luật Dân sự và Bộ luật Hình sự sửa đổi (1999) . Đặc biệt năm 1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 36/CT-TW về “Tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”. Tháng 7 năm 2000, Chiến lược BVMT quốc gia 2001-2010 cũng đã được trình lên chính phủ.

Công tác kế hoạch hoá về Bảo vệ môi trường 

Kế hoạch hàng năm, 5 năm về BVMT của các bộ, ngành, địa phương đều được xem xét và thảo luận với Bộ KHCN&MT để các nội dung nhiệm vụ BVMT phù hợp với nội dung kế hoạch chung của Nhà nước. Tuy vậy hiện nay công tác lập kế hoạch về BVMT ở các bộ, ngành, địa phương còn rất yếu:  công tác xây dựng kế hoạch BVMT của các ngành, các cấp chưa có một phương pháp luận thống nhất, do đó nhiều kế hoạch đưa lên các cấp xét duyệt chưa hợp lý, gây khó khăn trong khâu xét duyệt cũng như thực hiện.

Đầu tư cho công tác Bảo vệ môi trường:

Trong những năm 1991-2000, vồn đầu tư cho công tác BVMT từ ngân sách nhà nước vào khoảng 2.000 tỷ đồng để thực hiện hơn 200 dự án, ước tính khoảng 150-200 tỷ đông/năm bao gồm cả công tác điều tra cơ bản, cải tạo, BVMT. Hàng năm trung bình khoảng 2% kinh phí chi cho hoạt động BVMT của các địa phương được lấy từ vốn sự nghiệp khoa học công nghệ.

Do vốn đầu tư cho lĩnh vực môi trường còn hạn chế  và chưa được hoạch định thành một nguồn vốn riêng nên rất khó có thể xác định, thống nhất việc quản lý sử dụng. Tác dụng và hiệu quả sử dụng vốn còn hạn chế , phân bổ vốn còn dàn trải, quản lý và phân cấp quản lý vốn chưa chặt chẽ, chưa có cơ chế khuyến khích và huy động vốn từ các thành phần kinh tế và trong nhân dân.

Vốn viện trợ nước ngoài cho môi trường có chiều hướng tăng từ sau năm 1995. Số dự án viện trợ về môi trường trực tiếp cho các địa phương có tỷ lệ thấp, phần lớn tập trung ở các cơ quan trung ương.

Hợp tác quốc tế về BVMT

Trong thời gian qua nước ta đã tích cực tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế và khu vực nhằm hoà nhập với sự nghiệp BVMT của cộng đồng quốc tế và nâng cao năng lực BVMT quốc gia.

Việt Nam đến nay đã phê chuẩn 13 công ước quốc tế về môi trường và đang nổ lực thực hiện cam kết và nghĩa vụ của một nước thành viên.

Các công ước về môi trường mà Việt nam đã tham gia

STT

Tên công ước

Ngày VN là thành viên
1 Công ước liên quan đến bảo vệ di sản văn hoá và tự nhiên thế giói 19/10/1982
2 Công ước vê thông báo sớm các sự cố hạt nhân 29/9/1987
3 Công ước về hỗ trợ trong tường hợp sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu về phóng xạ 29/9/1997
4 Công ước về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng trong quốc tế, đặc biệt là nơi cư trú của các loài chim nước RAMSAR 20/9/1989
5 Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tầu biển MARPOL 29/8/1991
6 Công ước về buôn bán quốc tế những loài động thực vật có nguy cơ bị đe doạ (Công ước CITES) 20/1/1994
7 Nghi định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzon 26/1/1994
8 Công ước Viên về bảo vệ tầng ô zon 26/1/1994
9 Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển   5/7/1994
10 Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu 16/11/1994
11 Công ước về Đa dạng Sinh học 16/11/1994
12 Công ước về kiếm soát việc vận chuyển xuyên biên giới  các chất thải nguy hại và việc loại bỏ chúng ( Công ước Basel) 13/3/1995
13 Công ước chống sa mạc hoá     8/ 1998

Tác giả : ruthamcau.net.vn

 

SHARE