Diện tích vùng đất ngập nước đã bị giảm đi nhanh vì hoạt động của con người

Việt Nam có vùng đất ngập nước đa dạng gồm những vùng cửa sông và châu thổ rộng lớn với nhiều rừng ngập mặn, bãi bùn theo thuỷ triều, những vùng trồng lúa hoặc rừng tràm ngập nước theo mùa, nhiều đảo ven bờ, những đầm phá nước lợ và nước mặn rộng lớn, những bãi ruộng muối và ao nuôi thuỷ sản, nhiều hồ đầm nước ngọt, hồ chứa nước và vô số sông suối.

Đa số vùng đất ngập nước nằm ở phía nam đất nước, trong lưu vực sông Cửu Long với hệ thống sông ngòi và kênh mương chằng chịt, và vùng đồng lúa rộng lớn, hoặc rừng ngập mặn, rừng tràm, bãi bùn theo thuỷ triều, ao đầm nuôi tôm cá. Ơ miền trung, đa số đất ngập nước là các đầm phá ven biển và hồ chứa nước, còn ở miền Bắc lại có rất nhiều hồ , đầm trong vùng lưu vực sông Hồng, những bãi triều và rừng ngập mặn trải dài suốt vùng bờ châu thổ.

Ngoài chức năng sinh thái, đất ngập nước ở Việt nam đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, và khả năng khai thác vùng này trong cả nước là rất cao.

Đất ngập nước Việt nam là nơi sinh sống của nhiều loài hoang dã. Đầm lầy ven biển là địa bàn khá quan trọng cho các loài chim nước di trú và chỗ trú đông cho chừng 100 loài . Hàng đàn vịt và ngỗng trời, chừng hàng vạn con về đây vào mùa đông kiếm ăn ở các đầm lầy lưu vực sông Hồng, mặc dù số lượng của chúng có giảm đi đáng kể trong thập kỷ qua. Rừng ngập mặn và rừng tràm ở lưu vực sông Cửu Long là nơi sinh sống của nhiều loài chim như các loài cò diệc, cốc, cò quắm, vịt trời và các loài chim nước khác và một số loài chim hiếm như sếu đầu đỏ, cò ốc, già đẫy lớn và cò lạo Java. Những năm qua tại tỉnh Minh Hải và một số tỉnh lân cận đã có nhiều nơi chim tập trung làm tổ tạo thành các sân chim, máng chim khá lớn.

Do nhu cầu lớn về sản lượng lương thực, nhiều vùng đất ngập nước rộng lớn đã bị tiêu nước để canh tác. Ơ lưu vực sông Cửu Long, trong thời kỳ chiến tranh ước tính có khoảng 124.000 hec ta rừng ngập mặn (chiếm khoảng 40-50%) đã bị phá huỷ do chất độc hoá học, và sau đó rừng ngập mặn và rừng tràm lại tiếp tục bị chặt phá làm than củi, gỗ xây dựng và để làm ao nuôi cá, tôm.

Vì rừng đất ngập nước có chức năng sinh thái quan trọng trong việc tạo nơi sinh sản và nuôi dưỡng nhiều loài động vật nên việc mất rừng ở đây (rừng ngập mặn và rừng tràm) có ảnh hưởng nghiêm trọng hơn mất rừng ở vùng cao hay rừng đầu nguồn về nhiều phương diện. Diện tích rừng ngập nước hiện nay chỉ còn khoảng 30% (gần 1,2 triệu hec ta) của độ che phủ của loại rừng này vào những năm 1940. Phần lớn diện tích rừng tự nhiên còn lại và rừng trồng sau ngày giải phóng lại bị phá huỷ để mở rộng tràn lan việc nuôi tôm theo kiểu không bền vững trên vùng đất chua phèn của lưu vực sông Cửu Long. Do việc đắp bờ và quản lý kém và chưa thích hợp, các ao nuôi tôm kiểu này chỉ dùng được thời gian ngắn. Riêng ở tỉnh Minh Hải, nơi đã từng có 50.000 hecta (54%) rừng ngập mặn bị phá huỷ trong năm 1982 đến năm 1992, cái giá phải trả cho việc nuôi tôm quảng canh này lên tới 140 triệu đô la Mỹ. Nếu cứ tiếp tục cách làm trên thì một thập kỷ nữa mức thiệt hại sẽ lên đến 249 triệu (WB) . Tình hình tương tự cũng đang xẩy ra với các rừng tràm, nơi giàu tính đa dạng sinh học và các lâm sản hơn cả vùng rừng ngập mặn ven biển.

Nói chung đất ngập nước Việt Nam đang gặp những mối nguy hại vì những lý do sau:

  • Dân số ngày càng tăng
  • Sự can thiệp của con người làm rối loạn hệ thống tự nhiên
  • Ô nhiễm nước do nước thải công nghiệp và sinh hoạt, đặc biệt do thuốc trừ sâu từ các vùng nông nghiệp
  • Đánh bắt quá mức và các hoạt động phá huỷ sinh thái
  • Phá rừng ngập mặn và rừng tràm lấy gỗ củi, đốt than và làm ao nuôi tôm , nuôi trồng thuỷ sản thíếu quy hoạch

 

SHARE